Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Tại Việt Nam, tuy mới được hình thành nhưng trọng tài cũng được khuyến khích sử dụng trong một loạt các luật như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải v.v… Hiện nay, Việt Nam đã có Pháp lệnh Trọng tài Thương mại (ban hành năm 2003) là văn bản quy định khá chi tiết về trọng tài, trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Cũng giống như các phương thức giải quyết tranh chấp khác, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng có một số nguyên tắc nhất định. Một trong những nguyên tắc cơ bản của trọng tài đó là thẩm quyền được hình thành từ ý chí thoả thuận của các bên tranh chấp. Ý chí đó thường được thể hiện dưới dạng các thoả thuận bằng văn bản hay còn gọi là thoả thuận trọng tài. Do vậy, thoả thuận trọng tài giữa các bên chính là luật trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho trọng tài.
Thoả thuận trọng tài là một thoả thuận đặc biệt bởi nó quy định việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng phải bằng trọng tài mà thoả thuận trọng tài nằm ngay trong chính hợp đồng đó. Thỏa thuận này, trong hầu hết các trường hợp, phải được lập bằng văn bản. Tuy nhiên, hình thức bằng văn bản có thể được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, có thể được ký kết, trao đổi thông qua thư, telex, điện tín hoặc fax trao đổi giữa các bên, hoặc bất kỳ phương tiện liên lạc nào khác mà chứng minh được sự tồn tại của thoả thuận đó.
Các hình thức trọng tài
Trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc là những phương pháp khác biệt của quá trình tố tụng. Các bên trong trọng tài vụ việc thiết lập quy tắc tố tụng riêng mà họ cho là có thể phù hợp với diễn biến và sự việc của vụ tranh chấp, trong khi đó các bên trong trọng tài quy chế phải tiến hành trọng tài theo các trình tự của tổ chức trọng tài mà các bên lựa chọn.
Ưu điểm của trọng tài
Trọng tài vốn phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế là bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp. Các ưu điểm của trọng tài đó là:
Thứ nhất, thủ tục tố tụng linh hoạt: Đây là một trong những tiêu chí mà các doanh nghiệp thường quan tâm khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp. Luật trọng tài các nước quy định thủ tục tố tụng trọng tài rất đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa thuận của các bên. Các bên được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình tố tụng và các hội đồng trọng tài có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận của các bên. Ví dụ, các bên có thể quyết định số lượng trọng tài viên của hội đồng trọng tài, cách thức chỉ định trọng tài viên, tiêu chuẩn trọng tài viên, thời gian giải quyết vụ tranh chấp, luật áp dụng, ngôn ngữ, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp v.v...
Luật Trọng tài Mẫu UNCITRAL và luật trọng tài các nước đều ưu tiên ý chí thoả thuận của các bên trong việc lựa chọn hoặc quy định các bước thủ tục tố tụng. Pháp luật chỉ đưa các các quy định về thủ tục trong trường hợp các bên không có thoả thuận. Thậm chí, ngay cả khi đã ấn định các thời hạn và thủ tục trong quy tắc tố tụng, có tố chức trọng tài ví dụ như Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA) còn cho phép các bên được thỏa thuận sửa đổi một số thủ tục trong quy tắc tố tụng.
Thứ hai, tính trung lập, vô tư khách quan và tính chuyên nghiệp của trọng tài viên. Với đặc thù là cơ chế giải quyết tranh chấp tư, thẩm quyền được hình thành dựa trên thoả thuận của các bên, trọng tài luôn nhấn mạnh các tiêu chí vô tư, khách quan và trình độ của các trọng tài viên. Theo Điều 13 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, các trọng tài viên có nghĩa vụ “vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ tranh chấp”.
Bên cạnh đó, để đảm bảo tính trung lập và khách quan, một số trung tâm trọng tài đã đưa ra một số giới hạn về tiêu chí quốc tịch trọng tài viên. Theo Quy tắc tố tụng của ICC, trọng tài viên duy nhất hoặc Chủ tịch hội đồng trọng tài phải là người có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên tranh chấp (Điều 9 khoản 5).
Các trọng tài viên thường là người có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong một số lĩnh vực cụ thể, ví dụ như bảo hiểm, tài chính, vận tải, xây dựng v.v... Những tranh chấp chuyên ngành này đòi hỏi người phân xử phải có kiến thức rộng và am hiểu trong lĩnh vực đó. Do vậy việc giải quyết sẽ được chính xác và khách quan hơn.
Trong xu thế hiện đại, ngoài các tổ chức trọng tài lớn có thể giải quyết các tranh chấp trong nhiều lĩnh vực, một số nước đã thành lập các tổ chức trọng tài chuyên ngành, ví dụ, Uỷ ban trọng tài hàng hải Tôkyô (the Tokyo Maritime Arbitration Commission - TOMAC) thực hiện chức năng trọng tài của Sở giao dịch thuê tàu Nhật Bản (Japan Shipping Exchange) trong lĩnh vực vận chuyển hàng hoá, đóng tàu, bảo hiểm hàng hải, trao đổi, môi giới mua bán tàu và các phương tiện xa bờ và tài chính. Hiệp hội mua bán gạo và lúa mạch ở Luân-đôn (the London-based Grain and Feed Trade Association - GAFTA) thực hiện dịch vụ trọng tài mỗi năm xử khoảng 250 vụ liên quan đến mua bán gạo. Chỉ riêng tại châu Âu đã có 6 nước có tổ chức giám sát tố tụng trọng tài cho tranh chấp liên quan tới cà phê, các tổ chức này thường không nằm tại thủ đô các nước (ở Bỉ là Phòng trọng tài cà phê Antwerp; ở Italia có Phòng trọng tài cà phê Italia ở Genoa và Phòng trọng tài Trieste, v.v...).
Thứ ba, tính bí mật: Nguyên tắc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là không công khai. Đây cũng là đặc điểm khác biệt so với việc giải quyết tranh chấp tại tòa án và là ưu điểm của phương thức trọng tài. Trong quá trình kinh doanh, bí quyết kinh doanh là yếu tố quan trọng nhất là những lĩnh vực sở hữu trí tuệ, công nghệ cao, nếu giải quyết tại tòa án sẽ có nguy cơ bị lộ bí mật. Vì vậy, nếu giải quyết tranh chấp trọng tài sẽ nọi dung tranh chấp sẽ được giữ kín. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại Việt Nam cũng có quy định về vấn đề này. Cụ thể, một trong những nghĩa vụ của trọng tài viên là “giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết”. (Điều 13 khoản 2.d).
Thứ tư, quyết định trọng tài là chung thẩm và ràng buộc các bên. Đây là một trong những ưu điểm cơ bản của phương thức trọng tài. Nguyên tắc chung thẩm hay xét xử một lần được ghi nhận rộng rãi trong hệ thống pháp luật trọng tài quốc tế. Với nguyên tắc chung thẩm sẽ đảm bảo rút ngắn thời gian giải quyết vụ tranh chấp.
Thứ năm, sự công nhận quốc tế: Đây là một ưu thế quan trọng đối với các quyết định trọng tài có yếu tố nước ngoài. Thông qua một loạt các công ước quốc tế và đặc biệt Công ước Niu-oóc năm 1958 về Công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài, các quyết định trọng tài sẽ được công nhận và thi hành tại 142quốc gia, lãnh thổ trên thế giới.
Tóm lại, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, nhanh chóng và hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần lưu ý lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp thích hợp khi soạn thảo các ký kết các hợp đồng thương mại.