Pháp lệnh Trọng tài Thương mại – một bước tiến rõ rệt trong quá trình hoàn thiện chế định pháp luật về trọng tài thương mại của nước ta.
Trước những đòi hỏi khách quan về đa dạng hóa các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm của cơ chế thị trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, ngày 05/9/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116-CP về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Trọng tài Kinh tế. Theo các quy định của Nghị định này, Trọng tài Kinh tế thực sự được xác định là một tổ chức xã hội -nghề nghiệp, tức là tổ chức phi Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tranh một số tranh chấp theo quy định, hoàn toàn tách rời với chức năng quản lý nhà nước như trước đây.
Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định 116-CP, đã có 6 Trung tâm trọng tài được thành lập với hơn 130 Trọng tài viên. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan và khái quát thì trọng tài chưa thể hiện được vai trò cuả mình với chức năng là một cơ quan tài phán có vai trò hỗ trợ đắc lực cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp.
Nhằm khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực của các Trung tâm trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên, ngày 25/02/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH và ngày 15/01/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại. Có thể nói, Pháp lệnh Trọng tài Thương mại đã mở rộng một cách đáng kể thẩm quyền cho Trọng tài ở nước ta so với thẩm quyền của Trọng tài theo Nghị định 116-CP; quy định đầy đủ, rõ ràng về thỏa thuận trọng tài, góp phần chấm dứt tình trạng “lấn quyền của Toà án đối với trọng tài”; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc trở thành trọng tài viên; ghi nhận hình thức trọng tài mới là trọng tài vụ việc; mở rộng thẩm quyền chọn Trọng tài viên cho các bên tranh chấp; ghi nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa Trọng tài với Tòa án; nâng cao vị thế của Trọng tài bằng việc ghi nhận tính được cưỡng chế thi hành của các phán quyết trọng tài; quy định nhiều cơ chế mới để đảm bảo cho việc thành lập các Trung tâm trọng tài được chặt chẽ hơn, trên cơ sở đó mà nâng cao chất lượng và uy tín của các Trung tâm Trọng tài.
Những quy định mới của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho sự phát triển của trọng tài thương mại ở nước ta, giúp giải quyết nhanh chóng các tranh chấp thương mại, giảm bớt gánh nặng của cơ quan Tòa án... Đồng thời, cùng với các quy định pháp luật khác, pháp luật về trọng tài đã góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật trong sạch vững mạnh, phục vụ yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước.
Kết quả triển khai Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, Nghị định số 25/2003/NĐ-CP và công tác quản lý Nhà nước về trọng tài thương mại.
Sau khi Pháp lệnh Trọng tài Thương mại và Nghị định số 25/2003/NĐ-CP ngày 15/01/2004 có hiệu lực thi hành, Bộ Tư pháp đã khẩn trương ban hành Quyết định số 125/QĐ-BTP ngày 27/02/2004 về việc ban hành Mẫu Giấy phép thành lập Trung tâm Trọng tài và Mẫu Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm Trọng tài. Trên cơ sở các mẫu đã được ban hành, Bộ đã trực tiếp in ấn Giấy phép thành lập cũng như chỉ đạo các Sở Tư pháp tại các tỉnh, thành phố có Trung tâm Trọng tài khẩn trương tổ chức việc in ấn Giấy phép đăng ký hoạt động để phục vụ kịp thời cho việc cấp Giấy phép thành lập cũng như Giấy đăng ký hoạt động cho Trung tâm Trọng tài. Trước đó, ngày 16/02/2004 Bộ Tư pháp đã có công văn đề nghị các Trung tâm Trọng tài thành lập trước ngày Pháp lệnh có hiệu lực khẩn trương hoàn thiện hồ sơ xin phê chuẩn Điều lệ sửa đổi, bổ sung theo quy định của Nghị định số 25/2004/NĐ-CP. Đồng thời, trong khuôn khổ chương trình hợp tác với dự án STAR (Mỹ), Bộ Tư pháp đã phối hợp với dự án tổ chức ba lớp tập huấn về Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và Pháp lệnh Trọng tài Thương mại nhằm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến các quy định mới của Pháp lệnh đến các doanh nghiệp, các luật sư hành nghề…
Cho đến nay, Bộ Tư pháp đã phê chuẩn Điều lệ sửa đổi, bổ sung cho 5 Trung tâm Trọng tài Thương mại là Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà nội, Trung tâm Trọng tài Thương mại TP.Hồ Chí Minh, Trung tâm Trọng tài Thương mại Cần Thơ, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công Nghiệp Việt Nam và Trung tâm Trọng tài Thương mại Á Châu. Đồng thời, Bộ cũng đã hướng dẫn Trung tâm Trọng tài Kinh tế Bắc Giang hoàn tât các thủ tục chấm dứt hoạt động theo quy định của Pháp lệnh và Nghị định số 25/2003/NĐ-CP. Như vậy, sau hơn một năm triển khai thực hiện Pháp lệnh Trọng tài Thương mại thì chưa có một Trung tâm Trọng tài mới nào được thành lập, không những thế, số lượng Trung tâm vốn đã ít nay còn giảm đi. Hiện nay, cả nước có 5 Trung tâm Trọng tài với tổng số Trọng tài viên là 133, trong đó riêng Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam có 75 Trọng tài viên.
Nhìn chung, các Trung tâm Trọng tài hoạt động chưa hiệu quả vì trọng tài tuy không phải là một chế định quá mới mẻ, nhưng các doanh nghiệp của Việt Nam chưa có thói quen sử dụng dịch vụ trọng tài như là một trong những phương thức cơ bản để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động. Với hầu hết những Trung tâm đang tồn tại, việc triển khai thi hành Pháp lệnh cũng hầu như mới chỉ dừng lại ở việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ hoạt động và Quy tắc tố tụng. Theo báo cáo của Trung tâm Trọng tài Thương mại TP. Hồ Chí Minh, thì trong 6 tháng đầu năm 2004, Trung tâm chưa giải quyết vụ việc nào. Trong năm 2003, Trung tâm Trọng tài Kinh tế Hà Nội (tiền thân của Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội) giải quyết được 2 vụ.
Có thể nói hoạt động trọng tài thương mại trong hai năm qua hầu như chỉ tập trung tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Riêng trong năm 2004, Trung tâm này đã thụ lý 26 vụ kiện, tăng 85,7% so với năm 2003 (14 vụ), tăng 62,5% so với năm 2002 (16 vụ), tăng 85,7% so với năm 2001 (14 vụ)… Trong đó, số vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài là 18 vụ (chiếm 69%), còn lại 8 vụ tranh chấp trong nước, kể cả tranh chấp trong công ty liên doanh (chiếm 31%). Điểm đáng lưu ý là so với năm 2003 và các năm trước, số vụ tranh chấp được đưa ra tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam đã có sự tăng đều cả về các tranh chấp có yếu tố nước ngoài và tranh chấp trong nước. Số vụ tranh chấp trong nước đã chiếm tới 31%, trong khi những năm trước con số này chỉ khoảng dưới 10%. Tuy nhiên, theo như nhận định của Trung tâm thì con số 26 vụ kiện thụ lý năm 2004 vẫn không phải là nhiều nếu so với các nước trong khu vực, chưa tương xứng với số lượng các giao dịch thương mại đang diễn ra tại Việt Nam và vẫn chưa có sự gia tăng đột biến như mong đợi, vì vẫn nằm trong phạm vi bình quân 20 vụ/năm.
Bên cạnh hoạt động chính là giải quyết tranh chấp thương mại, một số Trung tâm đã chủ trì hoặc tham gia những hoạt động có tính chất hỗ trợ khác, như tuyên truyền, đào tạo, xây dựng pháp luật, hỗ trợ pháp lý. Trong năm 2004, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam đã phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ và Cục Quản lý thị trường tổ chức thành công hai cuộc hội thảo “Bảo hộ và giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế” tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; tổ chức đóng góp ý kiến cũng như giới thiệu nhiều chuyên gia là các Trọng tài viên của Trung tâm tham gia vào Ban soạn thảo Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại (sửa đổi); tư vấn miễn phí cho hàng trăm lượt doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến pháp luật kinh doanh…
Có thể nói rằng, tuy kết quả hoạt động trong thời gian qua vẫn chưa cao như mong đợi, nhưng các Trung tâm đều hy vọng Pháp lệnh mới với các quy định thông thoáng về trọng tài, đặc biệt về thi hành phán quyết trọng tài sẽ nâng cao vị thế và vai trò của trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp. Các Trung tâm Trọng tài bày tỏ nguyện vọng được các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm giúp đỡ trong lĩnh vực đào tạo Trọng tài viên, phổ biến tuyên truyền pháp luật về trọng tài thương mại…
Khắc phục tồn tại để phát triển hoạt động trọng tài trong thời gian tới.
Nhìn lại hơn một năm triển khai thi hành Pháp lệnh mới, có thể thấy rõ một số nguyên nhân cơ bản của việc trọng tài hoạt động chưa thực sự sôi nổi, trọng tài chưa phát triển tương xứng với tiềm năng:
- Pháp lệnh Trọng tài mới được triển khai thi hành nên chưa tạo được sự chú ý, chưa được các cá nhân, tổ chức kinh doanh biết đến nhiều. Công tác tuyên truyền, giới thiệu về những quy định mới của Pháp lệnh chưa được tiến hành thường xuyên và trên phạm vi rộng nên hiệu quả của công tác này chưa cao.
- Do hoạt động trọng tài trước đây có quá nhiều bất cập, đặc biệt là việc không có cơ chế cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài khiến các bên có liên quan tốn rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc, nên các doanh nghiệp không tin tưởng và lựa chọn trọng tài. Tuy Pháp lệnh Trọng tài đã được ban hành với một loạt những quy định mới nhưng vẫn chưa thực sự làm thay đổi cách nhìn cuả các doanh nghiệp. Họ vẫn còn ngần ngại, dè dặt, chưa tin tưởng vào cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
- Từ khi có Pháp lệnh Trọng tài mới, đa số các Trung tâm Trọng tài vẫn chưa thực sự tìm ra một hướng đi tích cực hơn cho mình nhằm nâng cao uy tín, thể hiện những ưu thế của mình trong hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại.
Từ những nguyên nhân nêu trên, Bộ Tư Pháp với chức năng là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về trọng tài đã và đang xúc tiến một số hoạt động nhằm giúp hoạt động trọng tài thương mại nói chung, hoạt động của các Trung tâm Trọng tài nói riêng có những kết quả khả quan hơn, cụ thể là:
- Phối hợp với các Dự án DANIDA (Đan Mạch) hỗ trợ nâng cao năng lực trọng tài viên và thành lập một số trung tâm trọng tài điểm.
- Đề nghị Dự án JICA (Nhật Bản) hỗ trợ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Trọng tài Thương mại…
Muốn khẳng định được vị trí của mình, muốn tạo được niềm tin cho các cá nhân, tổ chức kinh doanh thì bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước, các Trung tâm Trọng tài cần chủ động, tích cực hơn trong việc mở rộng danh sách Trọng tài viên, đặc biệt chú trọng tới các chuyên gia có uy tín và trình độ chuyên môn cao; bồi dưỡng nâng cao trình độ của các Trọng tài viên hiện có nhằm nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp của Trung tâm. Bên cạnh đó, mỗi Trung tâm cần tăng cường hợp tác với các tổ chức trọng tài trong và ngoài nước nhằm học hỏi kinh nghiệm cũng như nhận được những sự hỗ trợ cần thiết; thường xuyên tổ chức việc tuyên truyền, giới thiệu về tổ chức và hoạt động của mình…Nếu làm được như vậy, chắc chắn hoạt động trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại sẽ có những chuyển biến tích cực, những kết quả đáng kể hơn trong thời gian tới.
NGUYỄN THỊ VÂN
09-10-2005